Pháp môn niệm Phật liên quan mật thiết với Đức Phật A Di Đà và được xem là con đường phổ biến để đạt đến sự giải thoát trong Phật giáo Đại thừa. Thực hành niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà tập trung vào việc lặp đi lặp lại chú niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, từ đó giúp tịnh hóa thân tâm, hóa giải phiền não. Việc niệm Phật không chỉ đơn thuần là hành động tôn kính, mà còn là thực hành thiền định đơn giản, có tác dụng nâng cao ý thức và ổn định tâm lý. Qua đó, người tu học được rèn luyện sự tập trung, kiên nhẫn và từ ái với bản thân lẫn mọi người xung quanh. Truyền thống tu học này thể hiện được sự kết hợp hài hòa giữa niềm tin tôn giáo và kỹ thuật thiền định, tạo thành một phương pháp hiệu quả trong việc nâng cao phẩm chất đạo đức và phát triển tâm linh bền vững. Kinh A Di Đà là bản kinh phổ biến và đặc biệt quen thuộc đối với các Phật tử. Bản kinh này thuộc vào hệ tư tưởng Đại Thừa Phật giáo. Đây là 1 trong 3 bài kinh quan trọng nhất của Tịnh Độ Tông, miêu tả về cõi Tây Phương cực lạc, một vùng đất Thanh tịnh của Trong kho tàng truyện tích dân gian và Phật học Việt Nam, Đức Phật A Di Đà được nhắc đến qua nhiều câu chuyện mang tính giáo huấn về sự cứu độ, lòng nhân ái và tinh thần tùy duyên. Những truyền thuyết này thường kể về cách Đức Phật A Di Đà dẫn dắt các vị Bồ Tát và chúng sinh vượt qua khổ đau để hướng về ánh sáng chân thật. Các câu chuyện không chỉ tạo cảm hứng tín ngưỡng mà còn là nguồn tư liệu quý giúp truyền đạt những nguyên lý đạo đức sâu sắc đến mọi thế hệ. Qua đó, người Việt không chỉ giữ gìn nét văn hóa tâm linh mà còn học được giá trị của lòng từ bi, sự vị tha làm nền tảng cho cuộc sống hạnh phúc và hòa bình xã hội. Điều này cho thấy Đức Phật A Di Đà không chỉ là đối tượng tôn kính mà còn là biểu tượng đạo đức quan trọng trong truyền thống văn hóa dân gian. Kiến tạo thế giới Cực Lạc để chúng sinh về đó tu học là bố thí tài. Chúng sinh đến thế giới Cực Lạc, hưởng phước của Phật , không còn lo sợ sinh tử luân hồi nữa, đây là bố thí vô úy. Như vậy, đức Phật a-di-đà đã thực hiện đầy đủ ba pháp bố thí.